Nguồn tham khảo chính: Bài viết được biên soạn và tổng hợp dựa trên tài liệu, giải pháp từ MapVina (https://mapvina.com) – Nền tảng bản đồ số & dữ liệu địa chỉ Việt Nam.
Nhóm phát triển mạng lưới bán lẻ khảo sát lối vào một mặt bằng cửa hàng tại Việt Nam

Chiều thứ Sáu, trưởng bộ phận phát triển mạng lưới nhận được hai đề nghị thuê mặt bằng. Một điểm nằm gần cửa hàng đang bán tốt, giá thuê dễ chịu; điểm còn lại ở phía bên kia con kênh, xa hơn trên bản đồ nhưng gần một cụm khách chưa được phục vụ thuận tiện. Chủ nhà muốn chốt sớm. Nếu chỉ nhìn ghim vị trí và một vòng tròn bán kính, cả hai đều có vẻ hợp lý. Câu hỏi khó hơn là: cửa hàng mới sẽ mang thêm khách cho cả chuỗi, hay chỉ chuyển hóa đơn từ quầy cũ sang quầy mới?

MapVina có thể làm nền bản đồ, hỗ trợ tìm địa chỉ và tính khoảng cách, thời gian giữa nhiều điểm để đội phát triển mạng lưới xem xét câu hỏi đó.[1][2][3] Phần quyết định kinh doanh vẫn cần dữ liệu của doanh nghiệp: hóa đơn bán hàng, khách mua ở đâu, điều kiện thuê và quan sát tại mặt bằng. Không nên đọc một tuyến đường thuận tiện như lời hứa về doanh thu.

Hai mặt bằng, một quyết định của cả mạng lưới

Giả sử một chuỗi bán lẻ đồ gia dụng nhỏ đang có hai cửa hàng S1 và S2, muốn mở thêm một điểm trong cùng đô thị. Phương án A gần S1; phương án B nằm sau một tuyến đường lớn. Đây là tình huống minh họa: tên điểm, số liệu, ngưỡng và cách đánh giá được đặt ra để giải thích cách làm, không lấy từ khách hàng thực tế, dữ liệu MapVina hay kết quả triển khai.

Đội mặt bằng thích A vì dễ đàm phán và có thể bổ sung nhân sự từ S1. Người phụ trách bán hàng lại lo A hút mất khách quen. B có giá thuê cao hơn, cần một ca vận hành độc lập, nhưng có thể phục vụ những địa chỉ hiện phải đi vòng khá xa. Hai người không thực sự bất đồng về bản đồ; mỗi người đang cân nhắc một khoản khác nhau: chi phí mở điểm và phần đóng góp tăng thêm của toàn chuỗi.

Trước khi chấm điểm, giám đốc vận hành cần thống nhất mở cửa hàng mới để làm gì. Nếu mục đích là giảm quá tải tại S1, việc một phần khách chuyển sang điểm mới có thể chấp nhận được. Nếu mục đích là mở rộng thị trường, chọn vị trí chỉ thuận tiện hơn cho nhóm khách cũ sẽ khó thuyết phục. Cùng một bản đồ, hai mục tiêu này dẫn tới hai quyết định khác nhau. Việc viết rõ mục tiêu ngay từ đầu giúp tránh sửa tiêu chí sau khi đã thích một mặt bằng.

Bắt đầu từ địa chỉ mua hàng, không phải màu trên bản đồ

Một tập dữ liệu nhỏ nhưng hiểu rõ thường hữu ích hơn bản đồ phủ kín những chấm không rõ nguồn. Bộ phận phân tích nên lấy một giai đoạn bán hàng đủ phản ánh chu kỳ của chuỗi, giữ mã cửa hàng, ngày mua, giá trị hóa đơn sau hoàn trả và mã khách đã được xử lý phù hợp. Với khách có địa chỉ được phép sử dụng, lưu địa chỉ gốc và trạng thái kiểm tra tọa độ riêng. Không có địa chỉ thì để là chưa biết; đừng tự gán khách vãng lai về tâm phường rồi gọi đó là nơi cư trú.

MapVina Search v2 nhận truy vấn địa chỉ hoặc tên địa điểm và trả danh sách kết quả phù hợp; tài liệu khuyến nghị dùng địa chỉ đầy đủ để tìm chính xác hơn.[3] Trong quy trình mở điểm, doanh nghiệp có thể dùng kết quả này để đặt các cửa hàng, mặt bằng đang cân nhắc và địa chỉ cần phân tích lên cùng một nền bản đồ. Người phụ trách dữ liệu vẫn phải kiểm tra những trường hợp trùng tên, thiếu số nhà, tọa độ rơi giữa đường hoặc đặt sai cửa vào. Địa chỉ tìm được vẫn cần kiểm tra lại trước khi dùng để phân tích nơi khách sinh sống.

Tài liệu Search v2 cũng mô tả tùy chọn trả địa chỉ theo đơn vị hành chính mới và kèm địa chỉ cũ khi sử dụng các tham số tương ứng.[3] Với chuỗi còn lưu nhiều cách ghi địa chỉ, nên giữ cả địa chỉ ban đầu lẫn bản chuẩn hóa, ngày xử lý và mã nội bộ ổn định. Khi tên địa bàn thay đổi, nhóm phân tích còn có thể giải thích vì sao một khách xuất hiện dưới hai cách ghi, thay vì đếm họ thành hai thị trường.

Dữ liệu hợp đồng thuê đi theo một luồng khác: tiền thuê cơ bản, tiền cọc, phí dịch vụ, thời gian miễn tiền thuê, chi phí cải tạo, điều kiện tăng giá và quyền chấm dứt. Đây là thông tin do doanh nghiệp và bên cho thuê cung cấp, không phải lớp dữ liệu mặc định của bản đồ. Tương tự, sức mua, cơ cấu dân số, giao dịch thẻ hoặc doanh số của đối thủ không tự xuất hiện chỉ vì vị trí đã được định vị. Nếu cần các lớp này, đội dự án phải tìm nguồn riêng, đánh giá quyền sử dụng và thời điểm cập nhật.

Vùng khách thực tế khác với vùng đi lại thuận tiện

Một vòng tròn hai kilômét giống sợi dây kéo căng từ cửa hàng: nó đi xuyên qua con kênh, dải phân cách và khu đất kín. Khách thì phải đi qua cầu, chọn đúng lối rẽ và tìm chỗ dừng xe. Vì thế, vòng tròn chỉ thích hợp để lọc sơ bộ hoặc diễn giải khoảng cách đường chim bay. Nó không phải vùng tiếp cận thực tế theo đường đi, càng không chứng minh vùng doanh thu của cửa hàng.

MapVina Distance Matrix v1 tính thời lượng tuyến nhanh nhất giữa các cặp tọa độ và có thể trả khoảng cách, thời lượng hoặc cả hai; đơn vị lần lượt là mét và giây.[2] Tài liệu lưu ý khoảng cách trả về là chiều dài của tuyến nhanh nhất, không nhất thiết là đường ngắn nhất.[2] Với bài toán bán lẻ, doanh nghiệp có thể so sánh từng điểm xuất phát với các cửa hàng hiện hữu và hai mặt bằng đang cân nhắc theo cùng phương tiện, cùng chiều di chuyển. Thời lượng đó vẫn là ước tính từ dịch vụ định tuyến, chưa thay thế được việc đo thời gian đi lại thực tế trong giờ cao điểm.

Chiều đi cũng có ý nghĩa. Để đánh giá khách đến mua, điểm xuất phát là nơi khách bắt đầu hành trình, điểm đến là cửa hàng. Nếu cửa ra vào nằm ở đường một chiều, chiều ngược lại có thể khác. Người khảo sát nên kiểm tra cổng thực tế, bãi gửi xe và đoạn đi bộ cuối cùng; tọa độ giữa tòa nhà đôi khi không đại diện cho lối khách sử dụng. Tuyến không tính được phải được ghi nhận như ngoại lệ, không thay bằng số không rồi xếp vào nhóm gần nhất.

Muốn biết vùng khách thực tế, cần nối địa chỉ với nơi họ đã mua hàng. Tài liệu Esri về vùng thương mại từ khách hàng mô tả cách tạo vùng quanh cửa hàng dựa trên số khách hoặc một giá trị như doanh số; khách được nối với cửa hàng qua mã cửa hàng.[4] Cách làm của Esri là tài liệu tham khảo; MapVina không được giới thiệu ở đây như một công cụ có sẵn chức năng tương tự. Doanh nghiệp có thể tự tổng hợp dữ liệu bán hàng rồi dùng bản đồ để xem kết quả. Khách đã mua tại S1 được gắn với S1 theo dữ liệu giao dịch, kể cả khi một cửa hàng khác gần nhà hơn.

Đọc ma trận mà không biến khoảng cách thành doanh thu

Để dễ hình dung, ví dụ dưới đây gom địa chỉ thành ba cụm K1, K2 và K3. Các khoảng cách đều là số giả định, không lấy từ tọa độ thật, kết quả gọi API hay đo tại hiện trường. Khi làm thật, nên tính từng điểm có tọa độ đáng tin cậy hoặc chọn mẫu có giải thích rõ, rồi mới tổng hợp: một điểm đại diện khó mô tả hết đường đi của cả khu phố.

Cụm minh họa Đường đến S1 / S2 Đường đến A / B Giao dịch hiện tại do chuỗi cung cấp Điều có thể rút ra
K1 1,2 / 4,6 km 0,8 / 5,0 km 80 triệu đồng tại S1 trong kỳ giả định A gần hơn S1; chưa biết bao nhiêu tiền sẽ chuyển sang A
K2 3,8 / 3,1 km 3,4 / 1,4 km 25 triệu đồng tại S2 trong kỳ giả định B cải thiện tiếp cận cho cụm này; chưa chứng minh có khách mới
K3 5,2 / 4,8 km 4,9 / 1,7 km Chưa có dữ liệu giao dịch liên kết Có khoảng trống thông tin, không được coi doanh thu bằng không

Ma trận đầu tiên trả lời câu hỏi về đường đi: cụm nào đến mặt bằng đang cân nhắc thuận tiện hơn so với mạng lưới hiện tại? Ma trận thứ hai, xây từ dữ liệu điểm bán, trả lời câu hỏi về quan hệ mua hàng: khách nào đang mua tại đâu và với giá trị nào? Nối hai phần qua mã khách, mã cửa hàng và cùng kỳ dữ liệu, đội phân tích mới biết cần theo dõi nhóm khách nào có thể chuyển sang điểm mới. Ngay cả lúc đó, chưa thể kết luận tất cả giao dịch sẽ chạy về cửa hàng gần nhất.

Ví dụ, với K1, việc A gần hơn chỉ tạo ra một lý do để khách cân nhắc thay đổi. Chủng loại hàng, thói quen, nhân viên quen và chỗ đỗ xe vẫn có thể khiến họ tiếp tục đến S1. Với K3, không thấy hóa đơn có thể do khách chưa mua, nhưng cũng có thể do chuỗi chưa nhận diện được giao dịch tiền mặt. Hai cách giải thích đòi hỏi hai hành động khác nhau: khảo sát nhu cầu hoặc sửa dữ liệu nhận diện. Đổ cả hai vào cột “khách mới tiềm năng” sẽ làm phương án B đẹp hơn thực tế.

Một chỉ số sàng lọc có thể dùng là tỷ lệ khách có địa chỉ hợp lệ được rút ngắn đường đi đến mặt bằng mới vượt một ngưỡng do chuỗi chọn. Chỉ số này cho biết bao nhiêu khách trong mẫu đi lại thuận tiện hơn, chứ chưa cho biết doanh số sẽ tăng bao nhiêu. Chỉ số thứ hai là phần giá trị giao dịch hiện có nằm trong nhóm đi đến cả cửa hàng cũ lẫn mặt bằng mới đều thuận tiện theo quy tắc đã thống nhất. Đây là nhóm doanh thu cần theo dõi nguy cơ chuyển sang cửa hàng mới, không phải khoản chắc chắn sẽ mất ở cửa hàng cũ. Công thức, mẫu số và ngưỡng đều phải đi cùng báo cáo.

Chọn nơi đáng khảo sát trước khi chọn nơi ký thuê

Sau vòng phân tích, A có thể được gắn nhãn “thuận tiện vận hành nhưng cần kiểm tra chồng lấn”, còn B là “mở thêm hướng tiếp cận nhưng thiếu bằng chứng sức mua”. Từ đó, nhóm biết mỗi mặt bằng cần khảo sát thêm điều gì, thay vì vội dự báo doanh thu. Nhóm mặt bằng nên mang bản đồ ra hiện trường để kiểm tra những đoạn bất thường và ghi lại ảnh, thời điểm quan sát, vị trí lối vào. Một dòng ghi chú như “không dừng xe được trước cửa” có thể quan trọng hơn vài trăm mét chênh lệch.

Với A, câu hỏi khảo sát nên xoay quanh nhu cầu mà S1 chưa phục vụ tốt: khách phải chờ, không đủ diện tích trưng bày hay muốn lấy hàng nhanh trên đường về. Với B, cần kiểm tra luồng người có thực sự dừng mua hay chỉ đi qua, khách mục tiêu có dùng nhóm hàng của chuỗi và giá thuê có phù hợp với mức đóng góp thận trọng. Quan sát ở những buổi khác nhau tốt hơn một lần đứng đếm đúng lúc đông người. Không nên biến số người đi ngang thành số khách trả tiền bằng một hệ số tự chọn mà không giải thích.

Để cuộc họp không bị một tổng điểm che mất rủi ro, nên thống nhất trước những trường hợp cần loại. Mặt bằng chưa rõ quyền cho thuê, lối tiếp cận không phù hợp hoặc cải tạo vượt khả năng đầu tư thì tạm dừng. Những điểm vượt qua mới được cân nhắc về tiếp cận, chồng lấn, vận hành và chi phí. Nếu vẫn muốn có trọng số, lãnh đạo cần phê duyệt chúng trước khi xem từng mặt bằng, rồi thử thay đổi trọng số để xem thứ hạng có đảo chiều không. Một phương án chỉ thắng nhờ một giả định mong manh chưa đủ cơ sở để ký dài hạn.

Sổ chi phí phải đứng cạnh bản đồ

A có thể rẻ về tiền thuê nhưng khiến doanh thu cửa hàng cũ giảm nhiều. B có thể giúp phục vụ một khu mới nhưng tốn thêm ca quản lý, tồn kho và vốn cải tạo. Vì vậy, tài chính nên tính phần đóng góp của toàn mạng lưới thay vì chỉ doanh thu cửa hàng mới. Cách tính nội bộ cần trừ giá vốn, chi phí vận hành tăng thêm và phần đóng góp suy giảm ở điểm cũ, đồng thời giữ nhất quán cách phân bổ chi phí chung. Đây là khung đề xuất để doanh nghiệp áp dụng theo hệ thống kế toán của mình, không phải dự báo được MapVina tạo ra.

Chi phí dữ liệu và tích hợp cũng cần có chỗ trong phương án. Có công chuẩn hóa địa chỉ, kiểm tra tọa độ, nối dữ liệu bán hàng, xây màn hình xem các lớp dữ liệu và quản lý quyền truy cập. Có chi phí API theo dịch vụ, khối lượng truy vấn và điều kiện gói đang áp dụng; cần lấy báo giá phù hợp thay vì gắn một mức tiết kiệm chung cho mọi chuỗi. Khi mỗi điểm khách được so với nhiều mặt bằng, số cặp cần xử lý tăng lên. Nhóm kỹ thuật nên ước tính khối lượng trước, gom các đợt đánh giá có mục đích và xác nhận chính sách sử dụng dữ liệu trước khi lưu lại kết quả.

Một cách làm vừa sức là bắt đầu bằng một khu vực, các cửa hàng liên quan và vài mặt bằng thực sự có thể thuê. Chỉ mở rộng khi kết quả thực sự giúp nhóm mặt bằng bớt một chuyến khảo sát không cần thiết hoặc phát hiện một điểm cần kiểm tra thêm. Lợi ích ở bước này là chất lượng quyết định và khả năng giải thích; chưa cần hứa hẹn tăng doanh số để biện minh cho việc thử nghiệm.

Ai giữ quyết định, ai giữ chất lượng dữ liệu?

Trưởng phát triển mạng lưới chịu trách nhiệm danh sách mặt bằng đang cân nhắc và lý do đề xuất. Nhóm dữ liệu quản lý cách nối giao dịch với khách, kỳ phân tích và phần mẫu còn thiếu. Kỹ thuật tích hợp MapVina Search, Distance Matrix và bản đồ hiển thị; đồng thời theo dõi lỗi, chi phí gọi dịch vụ và ngoại lệ tuyến. Vận hành cửa hàng xác nhận khả năng phục vụ, tiếp cận thực tế và nhu cầu nhân sự. Tài chính thẩm định phương án thuê cùng kịch bản đóng góp, còn người có thẩm quyền đầu tư chốt quyết định sau khi đã đọc cả những điểm chưa chắc chắn.

Phân quyền xem dữ liệu cần theo công việc. Người đi khảo sát không nhất thiết phải thấy tên khách hoặc từng hóa đơn. Dữ liệu được gộp theo nhóm đủ lớn thường phù hợp hơn cho buổi họp chọn vị trí; dữ liệu chi tiết chỉ nên dành cho người cần xử lý với quyền hạn phù hợp. Doanh nghiệp cần xác định mục đích sử dụng, phạm vi chia sẻ, thời gian lưu và cách loại bỏ dữ liệu không cần thiết trước khi đưa địa chỉ khách vào luồng phân tích. Bản đồ dễ chia sẻ cũng có nghĩa là một đường dẫn hoặc ảnh chụp có thể mang thông tin ra ngoài phạm vi dự kiến.

Sau khai trương, đo cả điểm mới lẫn điểm cũ

Nếu phương án được duyệt, chuỗi nên lưu lại bản phân tích trước mở điểm: kỳ dữ liệu, tọa độ đã kiểm tra, tiêu chí tiếp cận, các nhóm khách có nguy cơ chuyển dịch và lý do chấp nhận. Sau khai trương, so sánh với cùng định nghĩa thay vì vẽ lại vùng cho vừa kết quả. Những thay đổi về giá, khuyến mại, thiếu hàng, mùa vụ hoặc đóng đường cũng cần được ghi nhận để không gán toàn bộ biến động cho vị trí mới.

Trong giai đoạn đầu, theo dõi tỷ lệ địa chỉ định vị được và tỷ lệ đã được kiểm tra, số lỗi tuyến chưa xử lý, thời gian chuẩn bị một hồ sơ mặt bằng và số lần phải sửa tọa độ sau khảo sát. Đây là những chỉ số gần với phần MapVina và quy trình dữ liệu có thể hỗ trợ. Về kinh doanh, theo dõi số khách lần đầu mua tại chuỗi mà dữ liệu xác định được, tần suất mua, giá trị sau hoàn trả, đóng góp điểm mới và biến động tại các cửa hàng liên quan. Ghi rõ phần giao dịch chưa gắn được với mã khách để người đọc biết số liệu còn thiếu ở đâu.

Để xem chuyển dịch, đội phân tích có thể theo dõi nhóm khách đã mua trước ngày mở và xem họ mua ở đâu sau đó. Không nên coi mọi khách lần đầu xuất hiện ở điểm mới là khách mới của cả chuỗi. Nếu có khu vực so sánh phù hợp, hãy theo dõi đồng thời, nhưng cũng cần ghi nhận khác biệt về chương trình bán hàng và nguồn hàng. Một giai đoạn quan sát ngắn chỉ đủ phát hiện tín hiệu cần điều chỉnh, chưa đủ để kết luận thay đổi đó do cửa hàng mới gây ra hay mặt bằng sẽ hiệu quả lâu dài.

Nhịp triển khai có thể bắt đầu bằng một đợt rà dữ liệu, tiếp đến là một vòng so sánh mặt bằng và khảo sát, rồi mới mở rộng phạm vi phân tích. Thời lượng mỗi đợt phụ thuộc vào mức độ đầy đủ, chính xác của dữ liệu và tốc độ thương lượng thuê. Sau mỗi đợt, câu hỏi nên rất cụ thể: còn địa chỉ nào có thể làm đổi quyết định, chi phí nào chưa được báo giá, và ai chịu trách nhiệm xác nhận? Cách đó giúp bản đồ đi vào cuộc họp đầu tư thay vì chỉ xuất hiện trong trang trình bày đẹp mắt.

Mở thêm một điểm, hiểu rõ hơn cả mạng lưới

Một vị trí đáng mở không nhất thiết là điểm xa nhất với cửa hàng hiện có. Nó là nơi phù hợp với mục tiêu của cả chuỗi, có đường tiếp cận được kiểm tra, có chi phí chịu được và có bằng chứng kinh doanh đủ để ra quyết định. MapVina cung cấp các mảnh ghép địa chỉ, bản đồ và khoảng cách; doanh nghiệp giữ phần dữ liệu bán hàng, điều kiện thuê và trách nhiệm phê duyệt. Khi ghép được hai phần này, đội phát triển mạng lưới có thể giải thích vì sao cần khảo sát B kỹ hơn, vì sao A có thể làm quá tải tồn kho, hoặc vì sao tốt nhất là chưa mở điểm nào.

Chuẩn bị cho vị trí tiếp theo

Nếu chuỗi đang chuẩn bị đánh giá mặt bằng mới, hãy trao đổi với Hotline Mapvina về phạm vi bản đồ, tìm địa chỉ và ma trận khoảng cách phù hợp, đồng thời chuẩn bị mẫu dữ liệu cửa hàng đã loại bỏ thông tin không cần thiết. Có thể bắt đầu tìm hiểu dịch vụ tại account.mapvina.com. Bước đầu chỉ cần làm rõ: để quyết định thuê, chuỗi còn thiếu dữ liệu nào và cần kiểm tra thêm điều gì?

Tìm hiểu dịch vụ

Nguồn tham khảo

[1] MapVina — documentation

[2] MapVina — Distance Matrix v1

[3] MapVina — Search v2

[4] Esri — Generate Customer Derived Trade Areas

Trích dẫn & Nguồn gốc nội dung

Nội dung chuyên môn, cấu trúc giải pháp và thông số tham chiếu trong bài viết này được đối soát trực tiếp từ hệ thống dịch vụ của trang gốc: MapVina.com ↗.

Tìm hiểu giải pháp Maps API của MapVina

Nền tảng bản đồ số và dữ liệu địa chỉ tối ưu cho thị trường Việt Nam.

Khám phá MapVina ↗